Vấn đề sáp nhập DN đã được nói tương đối rõ ràng, cụ thể trong Luật doanh nghiệp 2005, có những hình thức chia tách, thống nhất, sáp nhập .Bên cạnh đấy các quy định về M&A nằm tản mác trong các văn bản luật pháp khác như Luật đầu cơ, Luật cạnh tranh, Luật Chứng khoán và một số Nghị định của Chính phủ về việc tìm bán cổ phần của NĐT nước ngoài tại các NHTM trong nước, cụ thể: Tìm hiểu thêm >>> Luật sư mua bán sáp nhập Luật khó khăn 2004 khái niệm hoạt động mua lại DN là việc 1 DN tậu phần nhiều hoặc một phần tài sản của DN khác đủ để kiểm soát, chi phối hồ hết hoặc 1 ngành nghề của DN bị tậu lại (khoản 3, Điều 17) và M&A là một trong 5 nhóm hành vi của quy tụ kinh tế và chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của pháp luật, Ví như thị phần phối hợp của những DN tham dự tụ hội kinh tế chiếm trên 50% trên thị trường liên quan (trừ trường hợp 1 hoặc nhiều bên tham gia đang trong nguy cơ bị giải tán hoặc lâm vào tình trạng phá sản; việc tụ hội kinh tế có tác dụng mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần vững mạnh kinh tế - thị trấn hội, tiến bộ khoa học, công nghệ). Luật Chứng khoán 2006 cũng có những quy định về M&A, điều chỉnh các hoạt động tậu lại và sáp nhập trong lĩnh vực chứng khoán và những đơn vị đại chúng như chào sắm công khai (Điều 32) và quy định riêng về đơn vị lại DN có CTCK, doanh nghiệp điều hành quỹ (Điều 69). Xem thêm : vietnam commercial law Theo nhiều chuyên gia, những quy định của pháp luật hiện hành tuy đã đề cập tới hoạt động M&A, nhưng khái niệm chưa được chuẩn hóa, không hợp nhất giữa những văn bản. Luật công ty quy định về M&A như hình thức đơn vị lại DN, Luật đầu tư quy định như là hình thức đầu cơ trực tiếp, Luật Chứng khoán quy định như là hình thức đầu tư gián tiếp. Ngoài ra, những quy định này mới chỉ dừng lại ở việc xác lập về mặt hình thức của hoạt động M&A, trong khi đấy, M&A là 1 giao dịch thương nghiệp, nguồn vốn, đòi hỏi phải có các quy định cụ thể như kiểm toán, định giá, trả lời, môi giới, cung cấp thông tin, bảo mật, chuyển giao và xác lập có, chuyển dịch tư cách pháp nhân, cổ phần, cổ phiếu, những bổn phận tài chính, người lao động, thương hiệu, cơ chế giải quyết tranh chấp... Theo những chuyên gia, hiện cũng chưa có văn bản chỉ dẫn các thủ tục, thứ tự M &A rõ ràng, cụ thể, gây khó khăn trong việc xác lập những đàm phán, địa vị mỗi bên mua – bán cũng như hậu quả pháp lý sau M&A. Tuy nhiên, thẩm quyền quản lý của các tổ chức chủ quản đối có từng mẫu hình DN cũng khác nhau. Tìm hiểu thêm : vietnam company law Thêm vào ấy, những cơ quan nhà nước cũng chưa hợp nhất được hoạt động M&A là đầu tư trực tiếp hay gián tiếp, điều kiện nào để chuyển hoá từ đầu tư trực tiếp thành đầu tư gián tiếp và trái lại. Nếu mỗi cơ quan nhìn nhận hoạt động M&A dưới giác độ riêng thì không thể xây mới được cơ chế, chính sách thống nhất nhằm tạo ra một môi trường tiện dụng cho hoạt động này... Chính Do đó, Luật đơn vị sửa đổi phải là cơ sở pháp lý chính và quan trọng nhất cho hoạt động M&A, có các quy định cụ thể và rõ ràng hơn so luật hiện hành. Những luật khác chỉ nói hoặc điều chỉnh 1 số nội dung nhất quyết của tiến trình M&A và không được xung đột hay tranh chấp có Luật đơn vị. Việc quy định phần nhiều và thống nhất về M&A trong Luật tổ chức sửa đổi giúp cho khung pháp lý về M&A có thể khai triển được ngay lúc luật có hiệu lực và cũng khắc phục trạng thái Luật chờ Nghị định, Thông tư hướng dẫn. Bên cạnh đó, cũng phải có những quy định chỉ dẫn có tính kỹ thuật ở các văn bản có chừng độ pháp lý phải chăng hơn, chẳng hạn như những quy định về quản trị doanh nghiệp, hướng dẫn đơn vị có các quy định tại Điều lệ cho phép HĐQT vận dụng các biện pháp, nhằm chống thâu tóm thù nghịch, thậm chí là quy định có tính nguyên tắc về việc xác định giá bán chào mua công khai nhằm bảo đảm lợi quyền của cổ đông cũng như ngăn chặn các hiện tượng lạm dụng thị trường. Những quy định phải đảm bảo được tiêu chí căn bản mà một thương vụ M&A là bảo kê được quyền lợi của cổ đông, đặc biệt là cổ đông thiểu số; kiểm soát an ninh lợi quyền của chủ nợ; kiểm soát an ninh lợi quyền của người lao động và bảo kê quyền lợi của khách hàng.